menu
Anh-Thi DINH

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 1 (kỳ 5)

Posted on 27/03/2017, in Good articles.

Series này đã được post trên motthegioi.vn nhưng do ở đấy post không tiện theo dõi, khó tìm kiếm và khó lưu trữ nên tôi quyết định copy về lại đây để dành xem và tham khảo sau này.

Đại Việt phản công, quyết chiến Đông Bộ Đầu

Quân Mông Cổ ở Thăng Long chỉ hơn một tuần thì nhuệ khí và sức chiến đấu suy giảm mạnh so với thời điểm ban đầu mới tiến sang. Một mặt quân Mông lâm vào cảnh thiếu thốn lương thực, mặt khác chúng bị các làng xóm xung quanh Thăng Long kiên quyết chống cự. Quân Mông Cổ đã mất dấu triều đình Đại Việt nên có muốn tiếp tục cuộc rượt đuổi giữa kỵ binh và thuyền chiến cũng không được. Tình hình đã dần nằm ngoài sự suy tính của Ngột Lương Hợp Thai. Viên tướng được mệnh danh bách chiến bách thắng trong quân đội Mông Cổ lần này phải đối mặt với một thế trận không giống bất cứ nơi đâu mà y từng chinh chiến.

Trong khi đó tại Thiên Mạc, quân Đại Việt hừng hực khí thế phản công. Kể từ sau trận Bình Lệ Nguyên, vua Trần Thái Tông đặc biệt tin cậy Ngự sử trung tán Lê Tần. Hằng ngày Lê Tần đều cùng vua và Thái sư Trần Thủ Độ bàn việc cơ mật, lên kế hoạch chiếm lại kinh thành. Trong lúc đại quân còn đang chuẩn bị ở Thiên Mạc, thì Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư đã tự thống lĩnh đội gia binh của mình liên tiếp cơ động ở gần đại doanh của Mông Cổ, tổ chức những trận mai phục nhỏ tiêu diệt những toán quân đi lẻ tẻ cướp bóc. Vị tướng trẻ Trần Khánh Dư bấy giờ đương tuổi thiếu niên (1), với cách đánh xuất quỷ nhập thần cùng đội quân của mình đã làm cho quân địch thêm phần hoang mang, và càng cổ vũ nhuệ khí quân ta dâng cao. Mọi việc bàn định và chuẩn bị xong, cuối tháng 1.1258 binh thuyền Đại Việt nối tiếp nhau xuôi dòng sông Hồng tiến thẳng về thành Thăng Long, quyết chí thu phục lại kinh đô, đuổi giặc khỏi bờ cõi.

Chiến thuyền Đại Việt thời này vừa đông đảo lại vừa đa dạng về chủng loại, với nhiều chức năng chiến đấu khác nhau. Chiếm số lượng nhiều nhất trong hạm đội là những thuyền loại Mông Đồng. Loại thuyền này mạn thấp, mũi thuyền vút cao, có mái che tên, mỗi chiếc chở được khoảng 60 người. Trong đó có khoảng 30 tay chèo, 30 thủy binh. Khi lâm trận, tùy tình huống mà người chèo thuyền cũng có thể cầm vũ khí tham gia chiến đấu như binh lính. Hoàng thái tử Trần Hoảng (sau là vua Trần Thánh Tông) bấy giờ mới 18 tuổi, được vua Trần Thái Tông giao quyền đồng chỉ huy, trực tiếp thống lĩnh đội lâu thuyền (thuyền chiến có nhiều tầng lầu) đi tiên phong. Vua Trần Thái Tông đích ngự lâu thuyền dẫn toàn quân còn lại theo sau tiếp ứng.

Nửa đêm ngày 28, rạng sáng ngày 29.1.1258 (24 tháng Chạp năm Đinh Tỵ 1257 Âm lịch), quân Đại Việt tắt hết đèn đuốc, âm thầm chèo thuyền đến gần bến Đông Bộ Đầu, nơi quân Mông Cổ đóng đại doanh. Ngay sau khi tiếp cận thành công, thình lình trống trận quân Đại Việt nổi lên, đèn đuốc thắp sáng rực một khúc sông. Những làn mưa tên từ những chiến thuyền Đại Việt bắn tới tấp vào các chốt lính canh. Kế đến, hàng lớp chiến thuyền lớn nhỏ nhanh chóng đưa quân đổ bộ lên bờ, đánh sâu vào doanh trại địch. Lợi thế lớn ở chiến thuyền giúp cho quân Đại Việt có thể đổ bộ một cách dễ dàng. Quân Mông Cổ bị tấn công vào nửa đêm, sau những tổn thất ở vòng ngoài và hoảng loạn ban đầu thì gấp gáp định thần, mặc giáp cầm gươm ra chống đỡ. Ngột Lương Hợp Thai ra sức hô hào chỉnh đốn hàng ngũ. Từ các liều trại, quân Mông vội lên ngựa ùa ra kịch chiến với quân Đại Việt. Lúc này Đại Việt đã tấn công sâu lên bờ, mất đi sự yểm trợ đắc lực từ các chiến thuyền.

Tuy vậy với lợi thế áp đảo về quân số, sĩ khí, lại là quân no đánh quân đói nên trận tuyến Đại Việt hoàn toàn áp đảo quân địch. Thái tử Trần Hoảng cùng vua Trần Thái Tông ngự trên lâu thuyền chỉ huy toàn trận đánh. Những chiến tướng Đại Việt như Trần Quốc Tuấn, Trần Khánh Dư, Lê Tần … chia quân làm nhiều mũi công kích giặc trên các hướng. Quân Mông Cổ dồn quân chỗ cự mặt này thì lại hở mặt kia do thiếu quân và bất lợi ở trời tối. Trần Khánh Dư quan sát được sơ hở của địch, thúc quân đánh thọc sâu vào trận địa làm hàng ngũ Mông Cổ càng thêm rối loạn và tổn thất nặng nề. Khí thế quân Đại Việt ngút trời, dần hình thành thế bao vây quân địch. Là một tướng lão luyện, Ngột Lương Hợp Thai nhanh chóng nhận ra thế trận đã được định đoạt. Y lập tức hạ lệnh rút lui gấp về hướng bắc để bảo toàn lực lượng. Tính tổng cộng quân Mông Cổ chỉ ở Thăng Long được 9 ngày. Quân Mông Cổ rút theo đường cũ, men theo sông Nhị, sông Thao mà chạy một mạch về biên giới tây bắc Đại Việt.

Quân Mông Cổ tháo chạy, trận Quy Hóa

Thời bấy giờ lưu truyền về khả năng rút quân bảo toàn lực lượng của quân Mông Cổ ấn tượng cũng chẳng kém khả năng tấn công thủ thắng. Hắc Thát Sử Lược của học giả Bành Đại Nhã nước Tống chép về quân Mông Cổ : “ … Họ mà thắng thì đuổi theo địch chém giết, không để trốn thoát. Họ mà thua thì chạy rất nhanh, đuổi theo không kịp …”. Sẽ là một chiến thắng không triệt để nếu quân ta chỉ có thể bức rút mà không tiêu diệt được phần lớn sinh lực địch. Với quân số còn đông, quân Mông Cổ hoàn toàn có thể tạm thời lui binh để xốc lại lực lượng. Kỵ binh Mông Cổ “ngày đi vài trăm dặm”, rút lui rồi quay lại cũng sẽ chẳng mấy hồi vì chúng đã có Vân Nam (lãnh thổ Đại Lý thời bấy giờ) làm bàn đạp.

Thế nhưng ở Đại Việt thì cái tiếng tăm “đuổi không ai chạy kịp, chạy không ai đuổi kịp” của quân Mông Cổ một lần nữa bị đạp đổ. Dẫu rằng chiến thuyền và quân đội triều đình Đại Việt bấy giờ hầu hết dồn ở Thăng Long nên khó mà có lực lượng thuyền bè nào truy đuổi được quân Mông Cổ chạy về bắc. Tuy vậy các đạo dân binh ở các địa phương đã tổ chức đón lõng địch trên các tuyến đường mà buộc lòng chúng phải đi qua. Đó là tuyến đường men theo dọc sông Thao, qua ngã trại Quy Hóa (thuộc Lào Cai ngày nay) để về Vân Nam. Bấy giờ có tướng Hà Bổng, sau khi thừa kế quyền trại chủ Quy Hóa từ Hà Khuất (đã chết bệnh hoặc tử trận), ông đã tích cực kêu gọi quân dân khắp các vùng châu động biên giới tập hợp lại để chống giặc. Tin tưởng vào một chiến thắng ở vùng trung châu nước Đại Việt, hàng ngàn quân châu động của Hà Bổng với lực lượng đa phần là người dân tộc Tày, Nùng và các sắc dân thiểu số đã tổ chức sẵn một trận địa mai phục liên hoàn dọc theo tuyến đường ra quan ải tại địa bàn trại Quy Hóa. Họ đã kiên trì chờ đợi địch mấy ngày trời.

Lúc này quân Mông Cổ đã bại trận, sĩ khí tiêu tan, chỉ mong chạy thoát thân trước rồi mọi chuyện về sau mới tính kế. Quân Mông Cổ rút quân theo hàng dọc, người ngựa chạy đường dài chừng đã mệt mỏi, binh thế đứt đoạn, tốp trước tốp sau không liền lạc. Quân Mông chạy lọt vào trận địa dàn sẵn, nhất tề quân mai phục nổi lên tấn công mãnh liệt vào đoàn quân mệt mỏi của địch. Cung nỏ đồng loạt bắn ra, hàng ngàn chiến binh hăng hái xông vào giáp chiến với quân Mông Cổ. Bị tấn công bất ngờ tại địa hình hiểm trở, không kịp tập họp lực lượng chống đỡ nên quân Mông Cổ lại bị thiệt hại nặng nề. Ngột Lương Hợp Thai thúc quân cố chết phi ngựa vượt qua làn tên của đội quân dưới trướng trại chủ Hà Bổng, mạnh ai nấy giữ lấy thân, chẳng buồn đánh trả. Sự chống trả yếu ớt khác hẳn sự hung hăng, cướp phá lúc ban đầu khi tiến vào Đại Việt khiến quân dân vùng biên giới cũng không khỏi ngạc nhiên, mỉa mai gọi quân Mông Cổ là “giặc Phật”. Hà Bổng thúc quân truy kích. Quân của Ngột Lương Hợp Thai chạy đến biên giới thì một toán du binh Mông Cổ từ Vân Nam đến đón. Quân ta ngừng truy đuổi.

Ít lâu sau, Ngột Lương Hợp Thai dẫn quân hội sư với Hốt Tất Liệt ở Ngạc Châu. Không thể đi con đường từ lãnh thổ Đại Việt vòng lên phía nam nước Tống như dự kiến, đoàn quân của Ngột Lương Hợp Thai phải men theo những con đường núi hiểm trở từ Vân Nam đến Ngạc Châu. Trên đoạn đường này, quân Mông Cổ lại phải chết dần chết mòn do rừng thiêng nước độc. Khi hội quân ở Ngạc Châu, đoàn quân của Ngột Lương Hợp Thai chỉ còn lại 5.000 quân kỵ. Cuộc đời chinh chiến của mình, chưa bao giờ Ngột Lương Hợp Thai thảm bại như thế.

Điều đó khiến sử sách phương Bắc luôn tìm cách nói giảm, nói tránh để gỡ gạc thanh danh cho vị Thái soái của họ. Sách Nguyên sử các phần ghi chép bất nhất về cuộc xâm lược Đại Việt. Trong phần An Nam truyện, Nguyên sử miêu tả quân Mông thắng suốt, vua Trần thì “chạy trốn ra hải đảo” (!?). Cuối cùng An Nam truyện lý giải quân Mông “vì khí hậu khắc nghiệt nên rút quân về”. Cũng trong Nguyên sử nhưng phần Ngột Lương Hợp Thai liệt truyện lại chép rằng : *“… Quá bảy ngày, Nhật Cảnh (chỉ vua Trần) xin nội phụ, nên đặt tiệc rượu khao quân sĩ, đem quân quay về …” *. Những sự ghi chép gượng gạo, bất nhất này là nhằm tự bào chữa cho thất bại khó nuốt trôi ở Đại Việt. Trong lịch sử không bao giờ có truyện một đội quân hàng vạn người kéo sang nước khác chỉ để nhận lời “xin nội phụ”, khao quân một bữa rồi rút về mà không có sự thay đổi nào về mặt hành chính, cai trị.

Sau chiến thắng,vua cùng triều đình và thần dân về lại kinh thành Thăng Long. Bấy giờ quan cảnh kinh đô đổ nát do sự tàn phá của quân Mông Cổ. Từ vua đến thứ dân trông thấy đều không khỏi đau xót. Quân Mông Cổ tàn bạo tuy ở nước ta không lâu nhưng đã gây ra nhiều mất mát. Trải từ biên giới tới kinh đô, đã có nhiều nhân dân bị chết dưới vó ngựa hung tàn của giặc. Hơn vạn tướng sĩ cũng đã ngã xuống cho chiến thắng cuối cùng. Đó chính là cái giá của chiến tranh. Nhưng vượt trên tất cả, nền độc lập của nước Đại Việt vẫn trường tồn. Tết Nguyên đán năm Mậu Ngọ 1258, người Việt ăn Tết cùng với niềm vui chiến thắng quân xâm lược. Quân dân Đại Việt lại tiếp tục công cuộc xây dựng đất nước.

Ngột Lương Hợp Thai về đến Vân Nam ít lâu, Mông Cổ lại phái thêm hai sứ giả sang chiêu dụ, ý chừng muốn Đại Việt ngả theo phe Mông Cổ để cùng diệt Tống. Bởi dù bại trận, Mông Cổ vẫn cậy thế hùng cường của một đế quốc đã trải dài từ Á sang Âu. Trần Thái Tông với vị thế của người chiến thắng và căm giận sự tàn ngược của người Mông Cổ, trói cả hai sứ giả rồi đuổi về. Vua lại sai sứ sang Tống tặng quà, toan cùng với Tống dựa lưng vào nhau để đề phòng Mông Cổ. Thế nhưng bấy giờ quốc lực Tống quá yếu, liệu chừng không chống nổi sức tấn công mãnh liệt của đế quốc Mông Cổ. Trong năm 1258, thế lực Mông Cổ nhìn chung vẫn dâng lên mạnh mẽ, thiết lập vị thế bá chủ phương Đông của mình. Mông Cổ lại phái thêm một đoàn sứ giả sang Đại Việt để đòi cống phẩm hằng năm. Qua cơn thịnh nộ, nhà vua nhận thấy thế mạnh của người Mông Cổ đang lên, nay mai sẽ nuốt trọn nước Tống nên phái sứ giả sang kết bang giao với Mông Cổ để giữ hòa khí. Sứ đoàn do Lê Tần làm Chánh sứ, Chu Bác Lãm làm Phó sứ, định lệ ba năm triều cống một lần và yêu cầu giảm bớt những đòi hỏi cống phẩm vô tội vạ của Mông Cổ.

Bấy giờ là niên hiệu Nguyên Phong thứ 8, đời vua Trần Thái Tông. Triều đình luận công ban thưởng. Tướng Lê Tần, người anh hùng trong trận Bình Lệ Nguyên lĩnh công đầu, được ban tên Lê Phụ Trần, tiến phong chức Ngự Sử Đại Phu, lại được vua đem công chúa Chiêu Thánh gả cho (1). Vua ân cần nói với Lê Phụ Trần rằng : \”Trẫm không có khanh, thì đâu có ngày nay. Khanh hãy cố gắng để cùng được trọn vẹn về sau\”. Công kế đến là trại chủ Hà Bổng, được vua ban tước Hầu cùng nhiều tặng phẩm với chiến công ở trận Quy Hóa. Tiếp nữa Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư được phong làm Thiên Tử Nghĩa Nam nhờ sự mưu trí, dũng cảm của mình trong các lần tập kích quân Mông. Các tướng sĩ khác cũng được xét công mà ban thưởng. Vua lại thấy Thái tử Trần Hoảng tuổi trẻ tài cao, đã đủ sức đảm đương việc nước nên quyết định nhường ngôi cho.

Tháng 3.1258, Thái tử Trần Hoảng lên ngôi hoàng đế, tức vua Trần Thánh Tông. Vua Trần Thái Tông được tôn làm Hiển Nghiêu Thánh Thọ Thái Thượng Hoàng Đế. Thái Thượng Hoàng Trần Thái Tông về ngự ở Bắc cung, cùng giúp nhà vua mới trị quốc an dân. Lệ nhường ngôi sớm cho thái tử rồi làm Thượng hoàng của các đời vua Trần bắt đầu từ đây. Thời trị vì của Trần Thánh Tông tiếp nối thành quả đời trước, trong nước thì nhân tài nảy nở, nông nghiệp phát triển, thành một trong những thời kỳ thịnh trị bậc nhất sử Việt. Sức mạnh của Đại Việt lại được củng cố thêm, đủ sức để đương đầu với những phong ba còn dữ dội hơn những năm sắp tới thuộc vương triều Trần.

Chiến thắng Mông Cổ trong năm 1258 mãi là nguồn cảm hứng bất tận cho lòng yêu nước, là bài học quý về nghệ thuật quân sự, bài học về sự đoàn kết quân dân truyền cho muôn thế hệ sau. Quân địch dù tinh nhuệ, hay đông đảo, hoặc trang bị tối tân đến đâu thì cũng phải có điểm yếu. Cái mấu chốt của việc giữ nước là biết người biết ta, không vì thấy thế mạnh của giặc mà khiếp sợ, phải biết tìm chỗ yếu của địch mà khai thác, tận dụng chỗ mạnh của ta mà phát huy. Và trên hết là quân dân phải đồng lòng chung sức, muôn người như một, hiệu lệnh thông suốt từ trên xuống dưới. Ấy là nguồn sức mạnh vô địch vậy. Vua Trần Nhân Tông, vị vua anh hùng hai lần kháng Mông Nguyên nhiều năm sau đó khi thăm lăng mộ Trần Thái Tông, có dịp gặp và trò chuyện với người lính từng tham chiến trong trận này đã cảm khái viết dòng thơ :

Bạc đầu quân sĩ tại
Vãng vãng thuyết Nguyên Phong

Dịch là

Còn người lính đầu bạc
Mãi kể chuyện Nguyên Phong

Top