menu
Anh-Thi DINH

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 1 (kỳ 4)

Posted on 27/03/2017, in Good articles.

Series này đã được post trên motthegioi.vn nhưng do ở đấy post không tiện theo dõi, khó tìm kiếm và khó lưu trữ nên tôi quyết định copy về lại đây để dành xem và tham khảo sau này.

Trận Phù Lỗ, quân Trần phải rút lui nhường trận địa cho Mông Cổ

Sau trận quyết chiến Bình Lệ Nguyên gặp bất lợi, vua Trần cùng quan quân xuôi theo dòng sông Cà Lồ mà rút về đông. Mặc dù quân Đại Việt có lợi ở thuyền nên bỏ xa kỵ binh Mông Cổ truy kích phía sau, nhưng quân Mông vẫn kiên trì men theo bờ bắc sông Cà Lồ mà truy đuổi không ngừng nghỉ. Kế hoạch rút lui không đơn giản mà đòi hỏi phải có sự tính toán kỹ lưỡng. Số là khi xuất quân, vua Trần cùng đại quân đi đường bộ đến bờ sông Cà Lồ rồi xuống bến đi thuyền ra mặt trận. Đến nay phải lui quân, theo tuyến đường cũ thì phải bỏ thuyền lên bộ mới về được Thăng Long. Ngày 18.1.1258, quân Đại Việt bỏ thuyền lên bộ tại làng Phù Lỗ (nay thuộc Sóc Sơn, Hà Nội), chỉ một ngày sau trận Bình Lệ Nguyên. Địa danh này nằm trên tuyến đường bộ nối vùng trung tâm Đại Việt với vùng tây bắc thời bấy giờ. Thời điểm chuyển quân từ thuyền lên bộ là thời điểm nhạy cảm, cần có thời gian nhất định. Tại Bình Lệ Nguyên, sở dĩ quân Đại Việt xuống thuyền rút nhanh được là nhờ thuyền chiến đã đậu sẵn có trật tự. Nhưng bây giờ khi lui quân, một đoàn thuyền gần ngàn chiếc, chở hàng vạn quân phải cập bến chuyển quân trong thời gian ngắn. Sau đó, thuyền chiến còn phải đi vòng theo đường khác để lui về hậu tuyến.

Trước tình hình đó, vua Trần Thái Tông cho quân phá sập cầu Phù Lỗ để ngăn kỵ binh giặc truy đuổi, đồng thời lập một trận tuyến bên bờ nam Phù Lỗ để chặn hậu. Còn đại quân thì theo vua hành quân bộ về Thăng Long. Các thuyền theo thứ tự chuyển quân lên bộ xong lập tức rút về hướng đông, theo ngã sông Cầu đi vòng về nam, trừ một số thuyền chiến lưu lại Phù Lỗ trợ chiến. Tôn tử Phú Lương Hầu (cháu vua, không rõ tên) được giao phó chỉ huy quân chặn hậu. Trong chốc lát ngay sau khi quân Trần đổ bộ rút lui, quân Mông Cổ đã đuổi tới nơi. Tại đoạn chảy qua Phù Lỗ, sông Cà Lồ bấy giờ có tên gọi là sông Phú Lương tương đối lớn so với đoạn sông ở Bình Lệ Nguyên khiến cho quân Mông Cổ trong nhất thời không tìm được cách vượt sông, giúp cho vua Trần Thái Tông có đủ thời gian dẫn quân rút lui và quân chặn hậu có thời gian sắp đặt thế trận. Quân Mông bèn đi dọc bờ sông, bắn tên lên trời cho mũi tên lao tự do xuống nước. Đó là kỹ thuật đo độ sâu đáy sông độc đáo của kỵ binh Mông Cổ. Nếu mũi tên lao xuống nước rồi nổi lên mặt nước thì nước chỗ đó sâu, kỵ binh không thể qua được. Chỗ nào mũi tên lao xuống nước không nổi lên là chỗ nước nông, kỵ binh có thể lội qua. Lưu ý là thời kỳ này đã có nhiều cách vượt sông khi hành quân. Có các cách như dùng cây giáo buộc dây kết lại thành bè, lột da dê thổi hơi làm phao, dùng người bơi giỏi cắm cọc hai bên bờ sông rồi kéo dây … Nhưng những cách này đều đòi hỏi có thời gian chuẩn bị. Còn cách dùng mũi tên dò tìm chỗ nông của quân Mông Cổ có thể tận dụng chỗ đáy nông mà sang sông ngay lập tức. Vừa đi dọc bờ sông vừa bắn tên một lúc, cuối cùng quân Mông Cổ cũng dò ra được một khúc sông có mực nước nông. Kỵ binh Mông Cổ lập tức nối đuôi nhau vượt sông.

Cách vượt sông độc đáo của quân Mông Cổ làm cho quân ta bất ngờ. Việc quân Mông Cổ vượt sông nhanh chóng khiến cho thế trận Phù Lỗ gần như đã định đoạt. Quân chặn hậu của Phú Lương Hầu không đông nên liều chết cũng chỉ cầm cự được một lúc trước sức mạnh kinh hồn của kỵ binh Mông Cổ. Một số thuyền của Đại Việt bị quân Mông Cổ thu được và đánh đắm. Phú Lương Hầu cùng những quân sĩ dưới trướng hy sinh trong cuộc chiến chặn đường giặc, góp phần kéo dài thời gian quý giá cho đại quân cùng đầu não triều đình rút lui an toàn về Thăng Long.

Rút lui khỏi Thăng Long, thi hành kế “Vườn không nhà trống”

Về đến kinh thành Thăng Long, triều đình thi hành ngay kế “Vườn Không Nhà Trống” để đối phó với thế mạnh ban đầu của giặc. Ngay trong ngày và đêm 18.1.1258, toàn bộ quân đội và tôn thất, cung nhân cùng triều đình Đại Việt xuống thuyền rút về Thiên Mạc (thuộc Hà Nam ngày nay). Nhân dân trong thành Thăng Long cũng được lệnh di tản khỏi kinh thành, mang theo toàn bộ lương thực, thực phẩm. Khó có thể tin được, cuộc di tản chỉ diễn ra trong một ngày mà đại đa số dân chúng thành Thăng Long có thể mang theo hết lương thực khỏi thành. Chỉ riêng việc truyền lệnh trong thời đại chưa có những phương tiện truyền thông hiện đại đến toàn thể dân chúng trong thành cũng phải mất ít nhất hơn một ngày. Ngoài ra, những kho tàng của triều đình cũng không thể nào di tản nhanh chóng trong một ngày được. Nhiều khả năng cuộc di tản khỏi kinh thành đã được tiến hành từ trước cuộc giao chiến ngày 17.1.1258 tại Bình Lệ Nguyên, nằm trong kế hoạch chung của cuộc kháng chiến. Đó quả thực là một kế sách bài bản, không đơn thuần là bỏ thành rút chạy khi bị thua trận.

Việc rút lui khỏi kinh thành Thăng Long để thi hành kế “vườn không nhà trống” thực sự là một chiến dịch di tản khổng lồ. Kinh thành bấy giờ có đến hàng chục vạn dân, để qua được các sông mà di tản khỏi thành cần rất nhiều lượt thuyền bè. Còn đối với việc di tản quân đội và các kho tàng cũng ít nhất cần hơn ngàn chiếc thuyền để vận tải. Trong bối cảnh một phần lớn chiến thuyền giao tranh ở Bình Lệ Nguyên vẫn chưa về kịp (do phải đi đường vòng), hoặc đã bị giặc bắt được mà Đại Việt vẫn có đủ thuyền bè phục vụ cho di tản. Điều đó cho thấy sự hùng hậu của đội thuyền Đại Việt thời Trần như thế nào. Chính cái lợi thế ở thuyền đã làm cho cục diện chiến tranh ở Đại Việt khác biệt hoàn toàn với nhiều nơi mà quân Mông Cổ xâm lược. Lần hiếm hoi trong các cuộc chiến của Mông Cổ, quân Mông Cổ không còn giữ lợi thế về tốc độ. Ngựa Mông Cổ không theo kịp tốc độ của thuyền Đại Việt. Điều đó cũng có nghĩa là quyền lựa chọn đánh hay không đánh, đánh vào lúc nào đã nằm trong tay quân ta. Với thế mạnh ban đầu, quân Mông Cổ muốn đánh nhanh, thắng nhanh để sớm kết thúc chiến tranh. Phía Đại Việt đã buộc chúng phải rơi vào tình thế phải chờ đợi, đến khi nào quân Đại Việt muốn đánh với chúng.

Trong chiến dịch di tản khổng lồ khỏi Thăng Long nổi lên vai trò của vợ chồng Thái sư Trần Thủ Độ. Là trụ cột của triều đình lúc bấy giờ, Trần Thủ Độ đã sắp đặt khá chu toàn mọi chuyện. Quân đội theo vua lui về đóng ở vùng Thiên Mạc. Các làng xã xung quanh Thăng Long cũng được lệnh chôn giấu lương thực, xây rào lũy tự bảo vệ. Mỗi làng biến thành một cụm phòng ngự ngăn không cho giặc vào cướp lương ăn. Cung thất cùng vợ con các quan lại, thân vương di tản về vùng sông Hoàng Giang (thuộc Lý Nhân, Hà Nam ngày nay) dưới sự sắp xếp của Quốc mẫu Trần Thị Dung. Bà trước là hoàng hậu của vua Lý Huệ Tông, sau khi họ Trần thay họ Lý thì gả cho Trần Thủ Độ. Trần Thị Dung vốn là người được vua Lý Huệ Tông tin yêu, là mẹ của Lý Chiêu Hoàng và Thuận Thiên Hoàng Hậu (vợ vua Trần Thái Tông). Họ Trần có được ngôi báu nhờ vào công lớn của Trần Thị Dung nên uy tín của bà trong hoàng tộc rất lớn. Đến đây, Trần Thị Dung đã góp nhiều công lao giúp cho chiến dịch di tản thành công, bà lại tổ chức trưng thu vũ khí trong dân chúng gửi cho quân đội chống giặc.

Quân Mông Cổ sau khi vượt qua chốt chặn ở Phù Lỗ, bèn tiến thẳng đến kinh thành Thăng Long. Ngột Lương Hợp Thai cùng binh tướng dưới trướng dễ dàng chiếm được kinh đô Đại Việt. Đây là điều bất thường ở thời đại bấy giờ. Đại Việt đã không cố thủ tại kinh đô mà nhanh chóng di tản. Và bất thường nhất là cả dân chúng cũng di tản. Thông thường ở nhiều quốc gia trên thế giới, kinh đô là trái tim của một đất nước. Việc thất thủ kinh đô gần như đồng nghĩa với mất nước vì đó là đầu mối giao thông và kinh tế của cả nước, là nơi tập trung sức mạnh lớn nhất, nơi ở của những người lãnh đạo đất nước. Ngoài ra thì thất thủ kinh đô là một đòn gián mạnh vào tinh thần, ý chí chiến đấu của một nước khi đó là một biểu tượng tinh thần của đất nước. Trong suy tính ban đầu của quân tướng Mông Cổ, chúng sẽ đóng quân ở Thăng Long mà chờ đợi một sự đầu hàng của triều đình Đại Việt. Tuy nhiên sự tự tin của đội quân xâm lược sẽ nhanh chóng tiêu tan. Một thế trận mới của quân dân Đại Việt đang chờ đón chúng.

Quân Mông Cổ ở Thăng Long

Ngột Lương Hợp Thai dẫn quân xâm lược Đại Việt với một tốc độ nhanh thường thấy của quân Mông Cổ. Chỉ trong vòng chưa đầy 3 tuần kể từ khi vượt biên giới, quân Mông Cổ đã vào đến Thăng Long. Thế nhưng với kế sách “vườn không nhà trống” mà quân dân Đại Việt bày ra, việc nhanh chóng chiếm giữ kinh đô của quân Mông Cổ trở nên không mấy ý nghĩa.

Chưa kịp đắc thắng khi tiến vào Thăng Long, quân tướng Mông Cổ nhận ra rằng chúng đang ở trong một thành thị hoang vắng, chỉ còn lác đác một vài người dân không kịp di tản. Quân Mông lập tức lục soát khắp thành. Những gì chúng tìm thấy chỉ là ba tên sứ giả đang bị trói chặt bằng dây thừng tre, thoi thóp trong đại lao. Khi cởi trói thì một tên sứ giả đã chết do đói khát. Khắp thành Thăng Long các kho lương thực của triều đình cùng với lương ăn trong nhà dân đa phần đã được đem đi hoặc cất giấu. Quân Mông Cổ không tìm được quân lương, điều mà chúng hy vọng khi chiếm được thành Thăng Long. Tức giận, Ngột Lương Hợp Thai thả cho quân lính đập phá khắp thành, lùng giết bất cứ người nào còn sót lại trong thành. Hành động tàn ác này càng làm cho quân dân Đại Việt quyết tâm tử thủ ở bất cứ nơi nào quân giặc tiến đến.

Trong khi Thăng Long di tản, thì các làng xóm lân cận với kinh thành cũng tổ chức chôn giấu lương thực, đào hào đắp lũy để tự bảo vệ mình. Quân lệnh của triều đình đã ban xuống rằng nhân dân khi gặp giặc đến phải quyết chiến đến cùng, hoặc liệu thế không chống nổi thì cho phép lẩn trốn vào rừng núi chứ nhất định không hàng giặc. Mệnh lệnh đó được nhân dân các thôn làng tuân theo triệt để.

Như đã phân tích ở những kỳ trước, biên chế thông thường của một đạo quân Mông Cổ điển hình có ưu thế cốt ở việc gọn nhẹ, không tiêu tốn nhiều nhân lực, vật lực cho hậu cần. Phương châm của quân Mông Cổ là mang theo lương thực vừa đủ dùng trong một thời gian ngắn trên lưng ngựa, rồi chúng sẽ cướp bóc trong lãnh thổ đối phương để nuôi quân. Đó là sách lược lấy chiến tranh nuôi chiến tranh. Tuy nhiên lần tấn công Đại Việt, yếu điểm chết người của quân Mông đã lộ ra. Ở trong thành Thăng Long hoang vắng, nguy cơ thiếu lương thực đối với quân Mông tính bằng ngày, bằng giờ. Tình thế buộc Ngột Lương Hợp Thai phải chia quân thành các toán nhỏ, tỏa ra các làng quanh Thăng Long để cướp bóc. Tuy nhiên giải pháp này lại lợi không bù được hại. Chẳng mấy toán quân đi cướp lương thu về thành quả xứng đáng. Những làng chiến đấu luôn buộc quân Mông Cổ phải trả cái giá đắt về nhân mạng để đổi lấy số lương thực cướp được ít ỏi. Thế nhưng có khi quân Mông Cổ vào chiếm được làng lại chẳng tìm được gì để ăn. Thậm chí có những làng được dân binh dựng lũy kiên cố, đẽo tre làm chông như những con nhím khiến quân Mông Cổ không thể xuyên thủng nổi.

Sử cũ ghi nhận cuộc chiến đấu của nhân dân làng Cổ Sở (ngoại thành phía tây Hà Nội ngày nay) như một minh chứng điển hình của cuộc chiến tranh nhân dân quanh Thăng Long. Dân chúng của làng đã giăng bẫy, đào hào, cắm chông, dựng chiến lũy bằng tre để ngăn kỵ binh giặc. Kỵ binh Mông Cổ khi tấn công vào làng thì ngựa bị mắc bẫy khụy chân không đi được, binh lính Mông Cổ liều mạng xông vào thì giẫm phải chông tre và bị trúng tên từ trong làng bắn ra. Thừa thế, dân binh trong làng xông ra chém giết, chặt lấy đầu giặc để uy hiếp tinh thần. Cuối cùng toán quân cướp bóc đành phải rút chạy bỏ lại xác đồng đội mà chẳng thu hoạch được gì. Những chiến thắng từ các thôn làng nhỏ như thế là nền tảng ban đầu, là sự báo hiệu cho một chiến thắng lớn mang tính toàn cục. Quân Mông Cổ nhanh chóng lâm vào cảnh đói khát, túng quẫn. Ngột Lương Hợp Thai sợ ở trong thành sẽ bị bao vây bất ngờ nên dẫn quân ra khỏi thành, đóng quân ở bến Đông Bộ Đầu. Quân đội và triều đình Đại Việt thì mất tăm, khiến cho viên chủ tướng Mông Cổ có muốn kéo quân đánh một trận sống mái cũng chẳng được. Xung quanh thành Thăng Long là muôn vàn các nhánh sông lớn nhỏ như những chiến lũy tự nhiên ngăn cản quân Mông tung hoành. Quân Mông Cổ lúc này vẫn còn gần 4 vạn người, chỉ biết chôn chân chờ đợi.

Đại quân nhà Trần ở Thiên Mạc

Trong khi quân Mông Cổ ở Thăng Long dần rơi vào tình thế túng quẫn thì quân Đại Việt ở Thiên Mạc có cơ hội xốc lại tinh thần sau những tổn thất ban đầu. Dưới sự điều động về hậu cần cực tốt, các kho tàng đủ để nuôi một số lượng quân lính tập trung đông đảo trong một thời gian dài. Ấy cũng là nhờ trong lúc thái bình Đại Việt đã liên tục phát triển nông nghiệp. Cái gốc rễ thịnh vượng trong thời bình là nền tảng cho sức mạnh hậu cần trong chiến tranh. Bấy giờ sương binh các lộ, cùng với gia binh của các vương hầu kéo nhau đến Thiên Mạc hội sư đông đến hơn 10 vạn quân. Chiến thuyền Đại Việt đậu tấp nập ở sông Thiên Mạc. Những vũ khí trong dân ngày thường vẫn lưu giữ nhiều, nay được triều đình tổ chức trưng thu để bổ sung cho quân đội. Về mặt vật chất quân dân Đại Việt vẫn có đủ sức mạnh để đánh bại giặc. Tuy vậy, về mặt tinh thần xuất hiện một số hoang mang nhất định trong hàng ngũ. Bởi kể từ khi Ngô vương nối lại quốc thống nước Việt, trải mấy trăm năm chưa có quân giặc nào vào được kinh thành nước ta. Đến nay ta phải lui binh liên tiếp, bỏ ngỏ kinh đô. Điều đó theo lẽ thường bất cứ người nào cũng sẽ sinh hoài nghi về sức mạnh của đất nước.

Một điển hình cho sự sợ hãi thời bấy giờ, tiếc thay lại đến từ một người đứng đầu hàng quan võ – Thái úy Trần Nhật Hiệu. Ông trước là người có uy vọng rất lớn, từng lập nhiều công lao trong chiến trận, lại là người họ hàng gần gũi với vua (chú của Trần Thái Tông, được gọi là Thúc phụ). Trần Nhật Hiệu ngoài tài điều binh, còn có tài cai trị. Trước kia, vua Trần Thái Tông đi đánh Chiêm Thành đã giao ông làm lưu thủ tại kinh thành và ông đã hoàn thành trọn vẹn trọng trách. Bởi vậy bằng nhiều sự tin tưởng, vua Trần đã đích thân đi thuyền nhẹ đi tận chỗ của Trần Nhật Hiệu để hỏi kế sách chống giặc. Trần Nhật Hiệu lúc ấy đang ngồi thẩn thờ trên một chiếc thuyền nhỏ, nghe vua hỏi không nói nên lời, dùng tay chấm nước viết lên mạn thuyền hai chữ “Nhập Tống”. Tức là Nhật Hiệu khuyên vua bỏ nước chạy sang Tống nương nhờ để bảo toàn mạng cho hoàng gia. Đó là kế dở tệ và vô trách nhiệm. Bởi một là chính nước Tống cũng đang lao đao trước sức tấn công của Mông Cổ, hai là vua bỏ nước đi trốn thì muôn dân biết trông cậy vào ai nữa.

Vua lại hỏi quân Tinh Cương ở đâu. Nhật Hiệu bấy giờ đã bỏ ngũ, không điều quân nghiêm chỉnh nên vua mới hỏi vậy. Nhật Hiệu trả lời: *“Không gọi được chúng đến”. *Vua thấy Thúc phụ mình bày kế nhảm, lại bỏ quân bản bộ không coi giữ,thất vọng bỏ đi. Thuyền ngự lại sang chỗ Thái sư Trần Thủ Độ hỏi kế sách. Trái với sự yếu hèn của vị Thái úy, Thái sư Trần Thủ Độ khẳng khái đáp lời: *“Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo”. *Lời nói của vị Thượng phụ Thái sư, người đứng đầu bá quan văn võ khiến cho vua Trần Thái Tông lập tức lấy lại được niềm tin. Chẳng những vua Trần vững tin, mà khí khái của Thái sư Trần Thủ Độ còn truyền cảm hứng đến tất cả ba quân tướng sĩ.

Bấy giờ Trần Thủ Độ được mọi thần dân và quan quân Đại Việt coi là một cây đại thụ với rất nhiều sự tin tưởng. Tài thao lược của ông đã được minh chứng trong nhiều năm để làm nên một vương triều Trần vững mạnh. Bằng uy tín của mình, Trần Thủ Độ đã giúp quân Đại Việt có lại được nhuệ khí, có lại niềm tin vào chiến thắng. Với niềm tin đó, quân dân Đại Việt chuẩn bị bước vào trận chiến sống còn với địch.

Top