menu
Anh-Thi DINH

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 1 (kỳ 3)

Posted on 27/03/2017, in Good articles.

Series này đã được post trên motthegioi.vn nhưng do ở đấy post không tiện theo dõi, khó tìm kiếm và khó lưu trữ nên tôi quyết định copy về lại đây để dành xem và tham khảo sau này.

Bối cảnh, kế hoạch, chuẩn bị của hai bên

Bấy giờ là ngày 17.1.1258 (12 tháng Chạp năm Đinh Tỵ 1257 Âm lịch), vua Trần Thái Tông ngự giá thân chinh, bày trận ở Bình Lệ Nguyên (nay là Bình Xuyên, Vĩnh Phúc), tại khu vực làng Hương Canh và phụ cận, bờ nam sông Phan (phụ lưu sông Cà Lồ). Đội hình quân Đại Việt có tượng binh dàn hàng ngang tại tiền quân che chắn cho hàng hàng lớp lớp bộ binh, kỵ binh phía sau. Vua Trần Thái Tông được sự hộ vệ của các hiệu Cấm quân, chọn một điểm cao thoáng để quan sát và chỉ huy. Tháp tùng theo vua có nhiều quan lại và tướng lĩnh trong triều đình. Bất luận quan văn hay võ, ai ai cũng mặc giáp cầm gươm, sẵn sàng xông pha tên đạn.

Ngột Lương Hợp Thai dẫn quân Mông Cổ tiến sang Đại Việt với ý định sẽ nhanh chóng tiêu diệt đất nước ta. Tốc chiến tốc thắng là sở trường của viên tướng này cũng như những binh lính dưới tay y. Quân Mông Cổ kéo đến vùng Bình Lệ Nguyên thì đụng độ quân Đại Việt bày trận chờ sẵn. Kỳ thực, việc đụng độ quân Đại Việt ở bên ngoài thành trì và chiến lũy chính là điều mà binh tướng Mông Cổ mong muốn. Quân Mông Cổ có khả năng đánh dàn trận quy ước cực kỳ tốt, đã đánh bại nhiều đạo quân đông đảo và tinh nhuệ, trang bị tối tân trên thế giới. Những cuộc công phá các thành trì đòi hỏi nhiều công sức và thời gian hơn là đánh bại đối phương bên ngoài thành. Nhận được tin mà du binh báo về, Ngột Lương Hợp Thai lập tức lên kế hoạch “đánh nhanh, diệt gọn” quan quân nhà Trần. Y chia quân làm ba thê đội để vượt sông tấn công.

Đội thứ nhất do tướng Triệt Triệt Đô chỉ huy lĩnh nhiệm vụ tiên phong, dẫn một đạo kỵ binh nhanh nhẹn nhất tiến về hướng hạ lưu sông Phan để vượt sông, rồi vòng ra phía sau trận tuyến của quân Đại Việt tìm cướp thuyền. Ngột Lương Hợp Thai lệnh cho Triệt Triệt Đô: *“Quân ngươi khi đã qua sông, đừng đánh chúng vội, chúng tất đến chống lại ta. Phò mã theo sau cắt hậu quân của chúng. Ngươi rình cướp lấy thuyền. Quân Man nếu tan vỡ chạy ra sông, không có thuyền tất bị ta bắt” *(theo Nguyên sử). Cánh quân này ước chừng có khoảng 5000 quân.

Đội thứ hai do chính Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy ước chừng 3 vạn quân, theo kế hoạch vượt sông tấn công mở màn vào chính diện quân Đại Việt. Đội quân này lấy những hàng binh Đại Lý dàn ở các hàng phía trước để hứng chịu nhiều thương vong, kỵ binh Mông Cổ đi sau để hỗ trợ và tung đòn quyết định.

Đội thứ ba do phò mã Mông Cổ là Hoài Đô cùng tướng A Truật con trai của Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy, cầm đầu những kỵ binh Mông Cổ giỏi nghề cung tên nhận nhiệm vụ đánh tạc sườn quân Đại Việt, rồi vòng đánh sâu vào hậu tuyến quân Đại Việt để cắt đứt sự liên lạc giữa tiền quân và hậu quân Đại Việt, làm cho quân Đại Việt trước sau không thể tiếp ứng lẫn nhau. Ước chừng đội quân này có hơn 5000 quân.

Kế hoạch của quân Mông Cổ có vẻ khá chu đáo, với mưu toan diệt gọn quân chủ lực Đại Việt, giết hoặc bắt sống vua Trần chỉ trong một trận. Thế trận của quân Đại Việt là thế trận tĩnh của một đạo quân đặc trưng vùng đồng bằng, thế trận của quân Mông Cổ là thế trận năng động của những sắc dân sống bằng nghề du mục và săn bắn.

Diễn biến trận chiến

Bàn định xong xuôi, các cánh quân Mông Cổ theo kế hoạch mà di chuyển. Nhưng thực tế tình hình đã không diễn ra như tướng Ngột Lương Hợp Thai tiên liệu. Tướng Triệt Triệt Đô vượt sông ở hướng hạ lưu, tưởng rằng có thể vượt khỏi tầm quan sát của cụm quân chính phía Đại Việt để tiến đến bến thuyền. Tuy nhiên, quân của Triệt Triệt Đô đã bị phát hiện và đụng độ với một toán hậu quân Đại Việt. Triệt Triệt Đô cùng toàn đội tiên phong Mông Cổ buộc lòng phải quay ngựa lại giao chiến. Mặc dù quân ta bị thiệt hại nhiều hơn khi đánh với quân của Triệt Triệt Đô, nhưng quân tiếp ứng kéo tới ngày một đông. Triệt Triệt Đô mãi đánh với hậu quân Đại Việt, không thể tiếp tục nhiệm vụ cướp thuyền nữa.

Bấy giờ Ngột Lương Hợp Thai từ bên kia sông thấy bên Đại Việt biến trận, lại thấy cát bụi tung mù từ một góc trận tuyến Đại Việt, biết là đã có giao chiến. Y liền lập tức cho trung quân vượt sông tiếp ứng. Chờ cho cánh quân Mông Cổ vừa lên được bờ nam sông Phan, vua Trần Thái Tông hạ lệnh cho đội tượng binh nhất loạt xông lên, theo sau là các hàng quân kỵ và bộ. Quân Mông Cổ cố gắng tiến lên không lùi, toàn đội rốt cuộc cũng qua được sông, làm thành thế tựa lưng vào sông mà đánh. Các hàng quân phía trước của quân Mông Cổ với nhiều binh lính người Đại Lý chịu tổn thất nặng nề trước sức mạnh càng lướt của tượng binh Đại Việt. Kỵ binh Mông Cổ xông lên giáp chiến cũng không chống nổi voi. Binh lính Đại Việt ở trên lưng voi dùng cung tên bắn và dùng kích, câu liêm để đánh giết kỵ binh Mông Cổ, hỗ trợ đắc lực cho bộ binh Đại Việt tấn công trực diện vào chân và bụng ngựa các vũ khí như gươm, đao, rìu, giáo, kích … Không giáp chiến được với tượng binh, kỵ binh Mông Cổ chọn các cụm bộ binh và kỵ binh Đại Việt mà xông vào, rồi di chuyển xung quanh tượng binh mà bắn tên. Với chiến thuật này thì kỵ binh Mông Cổ mới chứng tỏ được sự vượt trội của mình. Thế trận dằn co bất phân thắng bại.

Cánh trung quân Mông Cổ giao chiến với tiền quân Đại Việt không lâu thì hậu quân Mông Cổ vượt sông vừa sang tới. Cánh quân này có nhiều tay kỵ cung thiện xạ. A Truật cho quân nhắm vào vòi và mắt voi mà bắn tên tới tấp, lại nhắm bắn vào quản tượng. Cung tên Mông Cổ bắn nhanh, xa và rất chính xác dù người bắn cung cùng ngựa chiến di chuyển liên tục. Dẫu cho tượng binh Đại Việt đều có chở lính bắn tên trên lưng voi, có lợi thế bắn tên từ trên cao nhưng số lượng rất hạn chế. Vài trăm thớt voi thì cũng chỉ có khoảng ngàn tay cung, không đấu cung tên nổi với kỵ cung Mông Cổ. Nhiều voi chiến bị trúng tên vào chỗ yếu huyệt như mắt, vòi. Voi đau đớn, hoảng sợ quay đầu chạy loạn, giẫm cả vào người ngựa quân Đại Việt. Trận thế của ta do vậy mà lộ ra sơ hở, quân Mông Cổ chớp lấy cơ hội, theo đường voi chạy mà đánh thọc sâu vào trận tuyến Đại Việt. Quân ta kiên cường chống trả, gây cho địch khá nhiều thiệt hại.

Tuy vậy, kỵ binh Mông Cổ dần chiếm thế chủ động nhờ giáp tốt, ngựa khỏe và di chuyển nhanh. Địa hình Bình Lệ Nguyên lại khá bằng phẳng, nền đất cứng, thuận lợi cho kỵ binh thảo nguyên thi thố hết sở trường. Quân Mông Cổ dùng chiến thuật chia cắt và diệt từng cụm một, khiến cho quân Đại Việt thiệt hại nhiều mà không thể chặn được đà tiến của địch. Chẳng mấy chốc, những tên lính Mông Cổ đã tràn tới giao chiến với quân hộ vệ của vua Trần Thái Tông. Vua lúc này đang quan chiến và điều tiết trận đánh, thấy vậy bèn tuốt gươm xông lên, cùng quân sĩ lăn xả giết địch, khí thế quân Đại Việt do đó mà tăng lên bừng bừng. Các hiệu quân tinh anh của Đại Việt cùng cả những quan chức trong triều đều hăng hái chiến đấu cạnh nhà vua, đánh bật nhiều quân Mông Cổ trở lại. Trận tuyến hai bên nhiều chỗ đan xen vào nhau, cuộc hỗn chiến dữ dội vẫn tiếp diễn…

Vua Trần chịu muôn phần hiểm nguy

Vua Trần Thái Tông tự mình làm tướng soái cầm quân đánh Mông Cổ, lại tự mình cầm gươm xông pha nơi mũi tên hòn đạn, cùng tướng sĩ chung phần hiểm nguy. Bấy giờ tuy quan quân Đại Việt chiến đấu hăng hái, nhưng quân Mông Cổ lại dai sức và cũng quyết tâm cao độ. Hàng hàng lớp lớp kỵ binh tinh nhuệ Mông Cổ nhắm thẳng vào hướng vua Trần Thái Tông xông tới, quyết giết bằng được quân chủ của Đại Việt. Hỗn chiến dữ dội ngay chỗ của vua Trần, binh sĩ hộ vệ vua ai ai cũng bận tay chống cự giặc. Nhà vua chiến đấu một hồi, nhìn quanh tả hữu không còn ai, chỉ còn thấy mỗi một vị tướng sắc mặt không động, một người một ngựa tung hoành trong muôn trùng vây quân địch, dũng mãnh che chắn cho vua nhiều đòn tấn công. Vị tướng đó là Ngự sử trung tán Lê Tần, người Ái Châu, một người văn võ toàn tài, hậu duệ của vua Lê Đại Hành. Nhờ sự dũng mãnh của Lê Tần, các quan quân hộ vệ mới có thời cơ xốc lại đội ngũ, bảo vệ cho vua. Tuy vậy trận thế của Đại Việt cứ bất lợi dần, quân lính chết càng nhiều do sức mạnh vượt trội của kỵ binh Mông Cổ.

Tình thế lúc ấy muôn phần hung hiểm, có người khuyên vua nên rút lui, kẻ lại xin vua ở lại tử chiến. Vua Trần Thái Tông đang lúc phân vân, ý cũng muốn “liều chết một phen” thì tướng Lê Tần cố sức can rằng : *\”Nếu bây giờ bệ hạ làm như thế, thì chỉ như người dốc hết túi tiền để đánh nốt tiếng bạc mà thôi. Tôi tưởng hãy nên lánh đi, không nên khinh thường mà nghe người ta được” *(theo Cương Mục). Vua nghe xong bừng tỉnh, hạ lệnh toàn quân rút lui về phía bến thuyền. Quyết định như vậy tức là vua Trần đã chấp nhận thua trận để mong bảo toàn lực lượng, chờ cơ hội phản công về sau. Nghe lệnh vua, hậu quân đổi thành tiền quân rút trước, tiền quân vừa đánh vừa lui chặn hậu. Nhưng hiện tại trên chiến địa quân ta và quân địch đã vào thế đan xen lẫn nhau. Lương Hợp Thai hạ lệnh dốc toàn lực đuổi theo bắt giết vua Trần Thái Tông.

Quân Mông Cổ đuổi rất gấp, tưởng chừng có lúc đã bắt kịp được vua ta. Đến sách Cụ Bản, đang lúc nguy cấp thì một đội quân địa phương kéo tới cứu viện vừa kịp lúc, dưới sự chỉ huy của tướng Phạm Cự Chích. Đội quân này xét về độ tinh nhuệ thì thua cả quân Mông Cổ lẫn quân triều đình mà vua Trần đã điều động, nhưng lòng dũng cảm trung kiên thì có thừa. Phạm Cự Chích cùng quân sĩ dưới trướng kịp thấy vua bị đuổi gấp, cùng nhau nhất tề xông vào chắn ngang đội hình truy đuổi của quân giặc. Từng người một trong số họ ngã xuống trước vó ngựa Mông Cổ, cho đến người cuối cùng. Đội quân của Phạm Cự Chích đã làm chậm nhịp truy kích, giúp vua và nhiều quân chủ lực Đại Việt khác xuống được thuyền rút lui. Quân Mông Cổ truy kích đến bờ sông, dùng cung tên bắn với theo thuyền rồng vua ngự, nhiều quân Đại Việt bị trúng tên. Lê Tần lệnh cho quân lật ván thuyền che cho vua. Nhờ vậy mà vua Trần Thái Tông an toàn rút khỏi trận địa. Thuyền của Đại Việt chèo nhanh về hướng đông, dần bỏ xa kỵ binh Mông Cổ lại phía sau.

Tiên phong quân Nguyên uống thuốc độc tự sát

Trận này, quân Đại Việt bị tổn thất nặng về voi chiến, nhưng phần nhiều binh lực vẫn được bảo toàn nhờ quyết định kịp thời của vua Trần Thái Tông và sự đồng lòng chung sức của quân tướng Đại Việt. Về phía quân Mông Cổ, tuy cũng có một số thiệt hại nhất định nhưng vẫn còn gần nguyên vẹn bộ khung là những binh tướng người Mông Cổ thiện chiến.

Nhận định về trận Bình Lệ Nguyên, chúng ta thấy rằng rõ ràng nếu so sánh về khả năng đối trận đánh trực diện thì quân Đại Việt không phải là đối thủ của quân Mông Cổ. Kể cả việc quân ta đông hơn gần gấp đôi, có tượng binh trợ chiến và là bên đến chiến trường trước thì vẫn không địch nổi. Lý do là bởi quân Mông Cổ đa phần là kỵ binh được trang bị rất tốt và dày dặn kinh nghiệm chiến đấu. Nên biết rằng, ở thời kỳ này một đơn vị kỵ binh thông thường được đánh giá là có thể đấu với số lượng bộ binh đông ít nhất gấp 2 lần trở lên. Trong cơ cấu phân chia chiến lợi phẩm của đế quốc Ả Rập, kỵ binh được chia nhiều gấp 3 lần bộ binh. Tại Châu Âu thời này, trang bị của một kỵ sĩ có giá trị tương đương với tổng tài sản của một làng. Ở một số nước, ngựa của kỵ binh thì bộ binh không có quyền cưỡi, nếu không muốn mang tội bất kính. Điều đó đủ cho thấy kỵ binh được đánh giá cao như thế nào. Huống chi, kỵ binh Mông Cổ lại là loại quân kỵ được đánh giá là hùng mạnh bậc nhất thế giới. Quân Đại Việt cũng có một số kỵ binh, nhưng đa phần là bộ binh hay quân thủy đánh bộ. Khi tác chiến ở địa hình bằng phẳng thoáng đản, tất nhiên sẽ gặp nhiều bất lợi. Xét về võ nghệ, quân Đại Việt tuy cũng là một đội quân mạnh vượt trội so với lân lang đương thời như Tống, Chiêm, Đại Lý … nhưng vẫn thua kém quân lính Mông Cổ vốn lớn lên trong chiến đấu.

Thất bại trong trận đầu tiên này là do sự tự tin thái quá của vua Trần Thái Tông, mà nguyên nhân sâu xa là vì sự thiếu thông tin của địch. Việc lựa chọn địa điểm quyết chiến hoàn toàn là một sai lầm. Tuy nhiên, dù bại trận cũng cho thấy nhiều điểm sáng. Đó là tinh thần chiến đấu và kỷ luật tuyệt vời của quan quân Đại Việt. Ở trường hợp tương tự, các đội quân xuất thân từ nông dân khác trên thế giới nhiều khả năng sẽ tan rã trong hoảng loạn, bỏ mặc chủ soái mà vứt vũ khí chạy thoát thân, hoặc giả buông giáo đầu hàng. Vậy mà quân đội Đại Việt lại có thể rút lui một cách có tổ chức, phần đông lên được thuyền để rút lui chứ không bỏ chạy hỗn loạn hay đầu hàng. Để rồi sau đó, lực lượng rút khỏi Bình Lệ Nguyên chính là những nòng cốt cho những trận chiến về sau.

Sau trận chiến, Ngột Lương Hợp Thai không thể mừng chiến thắng. Trái lại y vô cùng tức giận vì đã không thể bắt giết được vua Trần và để phần nhiều quân Đại Việt rút lui an toàn khỏi trận địa. Ngột Lương Hợp Thai đổ hết mọi tội lỗi lên đầu tướng Triệt Triệt Đô vì đã không hoàn thành được nhiệm vụ cướp thuyền, dọa rằng sẽ xử theo quân pháp. Tướng tiên phong Triệt Triệt Đô hổ thẹn, uống thuốc độc tự sát. Sách Nguyên Sử chép lại rằng tướng Triệt Triệt Đô ham đánh mà bất tuân thượng lệnh, nên kế hoạch của Ngột Lương Hợp Thai mới đổ bể. Nhưng đó chỉ là lời lẽ nhằm tô điểm cho hình tượng một Thái Soái “dụng binh như thần” trong mắt người phương bắc mà thôi, và cũng để an ủi rằng một nước như Đại Việt không bị thôn tính chẳng qua nhờ may mắn. Thực tế thì chính ngay kế hoạch của Ngột Lương Hợp Thai đã có vấn đề. Y đã quá tự tin mà coi thường sự bố phòng của quân Đại Việt. Thuyền bè là yếu huyệt của quân ta, đâu dễ gì nói cướp là cướp. Ắt hẳn phải có sự canh phòng và ứng cứu lẫn nhau giữa đội giữ thuyền trên bến Lãng Mỹ với cụm quân chính dàn trận ở làng Hương Canh. Chính việc đánh giá không đúng sức kháng cự của quân Đại Việt đã làm phá sản kế Cầm Tặc Cầm Vương (bắt giặc bắt vua) của Ngột Lương Hợp Thai. Đại Việt bảo toàn được đầu não và lực lượng nòng cốt, có điều kiện áp đặt thế trận mới cho cuộc chiến.

Top