menu
Anh-Thi DINH

Kháng chiến chống Nguyên Mông lần 1 (kỳ 2)

Posted on 27/03/2017, in Good articles.

Series này đã được post trên motthegioi.vn nhưng do ở đấy post không tiện theo dõi, khó tìm kiếm và khó lưu trữ nên tôi quyết định copy về lại đây để dành xem và tham khảo sau này.

Phương Bắc ép Đại Lý đánh Đại Việt, nhà Trần tống giam 3 sứ giả dụ hàng

Đạo quân Mông Cổ nhận nhiệm vụ xâm chiếm Đại Lý và Đại Việt là một trong những thành phần tốt nhất mà đế quốc Mông Cổ có được. Cả tướng lẫn quân đều tinh nhuệ. Đó là những tinh hoa của đế quốc Mông Cổ. Ngột Lương Hợp Thai (Uriyangqatai) là một trong những tướng lĩnh lẫy lừng nhất của Mông Cổ thời bấy giờ, được Mông Kha và Hốt Tất Liệt tin tưởng giao cho việc xâm lược Đại Lý và Đại Việt. Viên tướng này là con trai của Tốc Bất Đài (Subotai) – một trong Tứ Dũng của người Mông Cổ, phó tá Thành Cát Tư Hãn từ buổi đầu.

Ngột Lương Hợp Thai đã từng lập nhiều quân công lớn trong các chiến dịch đánh Kim, thôn tính Hoa Thích Tử Mô và tấn công Châu Âu, là một vị tướng bách chiến bách thắng từ Á sang Âu. Ngay cả Hưng Đạo vương về sau dù từng là người đối địch, cũng dành lời khen ngợi và lấy hình tượng của Ngột Lương Hợp Thai để khích lệ tinh thần quân lính trong tác phẩm Hịch Tướng Sĩ nổi tiếng :

“Vương Công Kiên là người như thế nào?… mà giữ thành Điếu Ngư nhỏ như cái đấu, chống quân Mông Kha đông hàng trăm vạn, khiên cho sinh linh bên Tống, đến nay còn đội ơn sâu.

Cốt Đãi Ngột Lang là người như thế nào? Tỳ tướng của ông ta là Xích Tu Tư lại là người thế nào? Mà xông vào lam chướng trên đường muôn dặm, đánh quân Nam Chiếu trong khoảng vài tuần, khiến cho quân trưởng người Thát đến nay vẫn còn lưu tiếng tốt.

Các ngươi…không có mặc thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho cơm,…lúc trận mạc thì cùng nhau sống chết, lúc ở nhà thì cùng nhau vui cười, so với Công Kiên đãi kẻ tỳ tướng, Ngột Lang đãi người phụ tá, nào có kém gì ?”.

Phụ tá cho Ngột Lương Hợp Thai có con trai y là A Truật (Aju), cũng là một tướng tài hiếm có. A Truật bấy giờ chỉ 18 tuổi mà đã trợ giúp đắc lực cho cha mình trong cuộc xâm lược Đại Lý. Tuy trước chiến dịch tấn công Đại Lý, A Truật chưa thể hiện được nhiều nhưng về sau lập được rất nhiều công lớn trong cuộc chiến Tống – Mông, trở thành một trong những tướng trụ cột của đế quốc Nguyên Mông. Ngoài hai danh tướng kể trên, trong đội quân Mông Cổ xâm lược Đại Việt còn có nhiều tướng lĩnh cao cấp khác của Mông Cổ. Đáng lưu ý là có đến 50 người mang tước vương, có quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân với hoàng thất Mông Cổ cũng được phái sang Đại Việt. Trong số đó có cháu nội của Thành Cát Tư Hãn là Abisca, con trai của Sát Hợp Đài (Chagadai). Với thành phần tướng lĩnh đông đảo, đầy đủ những tướng lĩnh lão luyện và cả hoàng thân như thế, rõ ràng Mông Cổ đặt rất nhiều tâm huyết vào đội quân xâm lược Đại Việt.

Quân Mông Cổ sau khi diệt xong Đại Lý thì cũng chịu tổn thất đến hơn 1 vạn người. Đó là do sức kháng cự của quân dân Đại Lý. Để kiểm soát được lãnh thổ vừa mới chiếm, Ngột Lương Hợp Thai còn phải để lại một số quân chiếm đóng ở Đại Lý, chỉ còn khoảng 2 – 3 vạn quân Mông Cổ được huy động tiếp tục tiến sang Đại Việt. Tuy vậy, Mông Cổ lại có được nguồn bổ sung quân số quan trọng từ hàng binh Đại Lý. Ngột Lương Hợp Thai điều động được thêm 2 vạn quân kỵ bộ người Đại Lý sung vào đội ngũ, tạo thành đội quân đông 4 – 5 vạn người phục vụ cho việc xâm chiếm Đại Việt. Số quân người Đại Lý tuy không tinh nhuệ như kỵ binh Mông Cổ, nhưng cũng là những quân lính có chất lượng tốt, được trang bị tốt và tinh thần chiến đấu không hề kém cỏi. Họ chiến đấu để nhằm bảo vệ tính mạng cho nhà vua của mình cũng như tính mạng những người Đại Lý khác. Bởi bấy giờ vua Đại Lý là Đoàn Hưng Trí cùng nhiều người thuộc hoàng tộc đã bị bắt, trở thành con tin. Sẽ thật sai sót nếu xem nhẹ sức chiến đấu của số quân người Đại Lý này. Mang thân phận là hàng binh, quân Đại Lý được Ngột Lương Hợp Thai bố trí làm “quân tiên phong” để đi đầu nhằm gánh bớt phần thương vong cho quân Mông Cổ. Đoàn Hưng Trí cùng chú mình là Tín Thư Phúc cũng theo quân Mông Cổ làm hướng đạo.

Quân Mông Cổ không như những đạo quân điển hình khác thời bấy giờ là luôn cần phu phen đi kèm để tải lương, khuân vác. Tất cả những gì cần thiết cho việc chiến đấu, sinh hoạt và ăn uống đều nằm trên lưng ngựa. Người Mông Cổ có rất nhiều ngựa, cho nên ngựa theo quân thay phiên nhau vận tải và chiến đấu mà không bị kiệt sức. Chính bản thân loài ngựa cũng là nguồn lương thực dự trữ của quân Mông Cổ (thịt và sữa). Biên chế như vậy ngoài việc tiết kiệm nhân lực tối đa, còn giúp quân Mông Cổ hành quân nhanh với tốc độ kinh hoàng. Quân Mông Cổ đi đến đâu sẽ cướp lương thực của đối phương mà ăn, vừa làm kiệt quệ đối thủ vừa tăng thêm tính cơ động của mình. Tuy vậy nhược điểm của chúng là không có khả năng duy trì một cuộc chiến kéo dài và không có điều kiện cướp bóc, vì khi đó lượng lương thực tiêu tốn trở nên quá lớn vượt quá số lượng lương thực mang theo trên lưng ngựa. Nhược điểm này không hề dễ khai thác, khi mà chiến thuật Tốc chiến tốc thắng của quân Mông Cổ đã làm kinh hoàng khắp thế giới. Chẳng cần có quân số đông, thậm chí rất nhiều lần quân Mông Cổ có quân số ít hơn hẳn đối phương nhưng vẫn giành được chiến thắng.

Khoảng nửa cuối tháng 12/1257, Ngột Lương Hợp Thai sắp đặt xong về nhân sự lập tức cất quân tiến thẳng về hướng Đại Việt. Đến vùng biên giới, quân Mông Cổ hạ trại dừng quân. Để lung lạc tinh thần của phía Đại Việt, Ngột Lương Hợp Thai đã phái sứ giả đến đưa thư cho vua Trần Thái Tông dụ hàng. Thái độ của sứ giả Mông Cổ luôn trịch thượng hống hách, tỏ ý ra oai nước lớn, lời lẽ đe dọa lẫn dụ dỗ vua tôi Đại Việt. Bấy giờ phía bắc Mông Cổ tung hoành dọc ngang, thì phương nam Đại Việt cũng là một nước hùng cường, đâu dễ gì chịu phục. Đại Việt trước giờ đối với nước lớn như Tống vẫn không ngại động binh, đối với Chiêm Thành thì bắt phải xưng thần cống nạp. Đối với Mông Cổ tuy có nể sợ đôi phần về thế lực đang lên mạnh nhưng vẫn có ý coi là man di mà thôi.

Vua Trần Thái Tông vốn tự tin về sức mạnh của quân dân Đại Việt, lại căm tức sự hống hách của sứ giả Mông Cổ, liền hạ lệnh tống giam. Ngột Lương Hợp Thai không thấy sứ giả quay về, tiếp tục tiến quân vào lãnh thổ nước ta. Đến trại Quy Hóa, quân Mông Cổ lại dừng, liên tiếp phái thêm hai sứ giả nữa. Sứ giả mà Ngột Lương Hợp Thai phái tới đều bị giam cả. Phần là vì vua Trần tỏ ý không chịu khuất phục, phần là để đề phòng sứ giả khi trở về được sẽ báo cáo những sự bố phòng của phía ta. Bắt giam sứ giả rồi, vua Trần Thái Tông điều động cấm quân và các lộ quân lân cận chuẩn bị sẵn sàng để nghênh chiến với Mông Cổ. Cả nước hừng hực khí thế chống giặc.

Chờ mãi chẳng thấy sứ giả nào quay về, Ngột Lương Hợp Thai từ sốt ruột đổi sang tức giận, bèn hạ lệnh tiếp tục tiến quân, quyết tâm tiêu diệt nước Đại Việt như người Mông Cổ đã làm ở nhiều nơi khác trên thế giới.

Các hướng tiến quân của Mông Cổ

Cuối tháng 12.1257, Ngột Lương Hợp Thai từ trại A Mân sát biên giới Đại Việt rồi tấn công chiếm đóng trại Quy Hóa thuộc lãnh thổ Đại Việt. Quân của trại chủ Hà Khuất không chống nổi, phải lẫn vào rừng mà tránh mũi nhọn của giặc. Sau đó quân Mông Cổ từ trại Quy Hóa tiến quân dọc bờ sông Thao (đoạn sông Hồng chảy qua các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Phúc) thẳng xuống kinh thành Thăng Long khi chờ không thấy sứ giả nào trở về. Hai đạo kỵ binh được phái đi tiên phong dò đường. Đạo tiên phong thứ nhất do tướng Triệt Triệt Đô (Cacakdu) men theo hữu ngạn sông Thao mà tiến. Đạo tiên phong thứ hai do phò mã Mông Cổ là Hoài Đô (Quaidu) chỉ huy hành quân bên tả ngạn để bảo vệ sườn phải của đại quân Mông Cổ. Viên tướng trẻ A Truật cầm trung quân tiến sau đội tiên phong của Triệt Triệt Đô. Sau cùng là hậu quân do Ngột Lương Hợp Thai trực tiếp chỉ huy.

Quân tình Đại Việt

Bấy giờ về tương quan lực lượng toàn lãnh thổ, quân Đại Việt có quân số đông áp đảo địch. Nhưng vì là bên tấn công, Mông Cổ có lợi thế binh lực tập trung. Trái lại, quân đội Đại Việt cần phải phân chia để phòng thủ nhiều nơi trên đất nước.

Toàn quân thường trực Đại Việt có 10 vạn quân. Trong đó, cấm quân khoảng 2 vạn, sương quân 8 vạn. Các hiệu sương quân ngày thường thay phiên làm ruộng, nay đều đã nhập vào đội ngũ khi có lệnh sẵn sàng chiến đấu. Trong năm 1257, một cánh quân đã được điều động lên trại Quy Hóa gần biên giới dưới quyền chỉ huy của viên tướng trẻ Trần Quốc Tuấn để phòng bị quân Mông Cổ. Tuy nhiên, sử sách cũ của cả hai phía Nguyên Mông và Đại Việt đều không có ghi chép gì về sự giao chiến của Trần Quốc Tuấn với quân Mông Cổ. Có thể Trần Quốc Tuấn đã chủ động rút lui bảo toàn lực lượng, tránh đi cái thế mạnh ban đầu của giặc. Một cụm quân quan trọng khác của Đại Việt đóng ở Thiên Mạc (thuộc Nam Định) – đất thang mộc của họ Trần. Ngoài ra, biên thùy phía nam vẫn luôn cần phải có trọng binh đóng giữ để phòng bị nước Chiêm Thành. Dẫu vậy, về vấn đề quân số thì Đại Việt vẫn có thể điều động ngay lập tức một số lượng quân đông hơn hẳn quân địch. Quân số không phải là điều đáng ngại với Đại Việt trong cuộc chiến này.

Theo phép tắc nhà Trần, nhiều vương hầu nắm giữ trọng chức nhưng không thường xuyên ở tại kinh đô mà ở trong các Thái ấp của mình, khi có việc cần vua sẽ cho người gọi đến. Chính vì vậy mà trong nhiều quyết định quan trọng lúc quân Mông Cổ mới sang, nhà vua không có được sự thảo luận kỹ càng từ các đại thần. Đây mới chính là vấn đề khiếm khuyết quan trọng trong việc chuẩn bị kháng chiến. Vua Trần Thái Tông bấy giờ tuy là một vị vua anh minh, thể hiện được tài năng trị nước nhưng xét về kinh nghiệm chiến trường vẫn còn rất ít. Cần biết rằng, tướng Mông Cổ sang Đại Việt lần này là những tên có rất nhiều kinh nghiệm chỉ huy nhiều cuộc chiến lớn, với nhiều hình thái chiến tranh khác nhau, và từng đánh bại nhiều đội quân có sở trường khác nhau. Sự chênh lệch về kinh nghiệm tác chiến, chỉ huy sẽ đóng vai trò rất lớn trong cuộc chiến.

Vua Trần Thái Tông thân chinh, hai đội quân đối mặt

Nhận được tin báo về tình hình quân Mông Cổ và nắm được hướng tiến quân của chúng, vua Trần Thái Tông quyết định thân chinh. Đầu tháng 1.1258, vua điều động sáu quân gồm quân Thiên Thuộc, Thiên Chương, Thánh Dực, Chương Thánh, Thần Sách, Củng Thần cùng sương quân các lộ gần kinh thành. Tổng quân số lên đến chừng hơn 7 vạn người, với tượng binh trợ chiến và nhiều chiến thuyền (căn cứ theo quân số có thể có hơn 1000 thuyền) làm nhiệm vụ chuyên chở quân lính, voi chiến. Số quân binh này đã được lệnh sẵn sàng chiến đấu từ trước, nay chỉ hô một tiếng là lập tức hợp thành đoàn quân. Tháp tùng theo vua có nhiều tướng lĩnh quan trọng. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vương hầu và các lộ ở xa chưa đến hội quân. Ấy là do vua Trần Thái Tông khá tự tin với quân đông hơn gần gấp đôi và có nhiều tượng binh trợ chiến, ngài sẽ nhanh chóng giành chiến thắng trước quân Mông Cổ. Vua đi đánh trận xa, Thái sư Trần Thủ Độ được giao trọng trách giám quốc, đóng ở kinh đô Thăng Long làm hậu viện.

Binh thuyền Đại Việt từ kinh thành Thăng Long ngược dòng sông Phú Lương (sông Cầu), rẽ vào sông Cà Lồ tiến lên phía tây bắc chặn giặc. Đến vùng Bình Lệ Nguyên (Bình Xuyên, Vĩnh Phúc ngày nay), vua Trần Thái Tông cho quân đổ bộ lên bờ bắc sông Cà Lồ, tiến về bờ nam con sông Phan, khu vực làng Hương Canh mà dàn trận nghênh địch (1). Còn số thuyền chở quân đổ bộ đóng tại bến Lãng Mỹ, nằm trên sông Cà Lồ, cách Bình Lệ Nguyên không xa, để phòng sự bất trắc sẽ chở quân rút lui về hậu tuyến.

Lại nói quân Mông Cổ từ khi nhổ trại tiến quân đến giữa tháng 1.1258 thì đến bờ sông Lô. Các toán tiền hậu tả hữu của Mông Cổ cùng vượt sông Lô hội quân tại Bạch Hạc (thuộc Việt Trì, Phú Thọ ngày nay). Đoàn quân xâm lược của Mông Cổ do tướng Ngột Lương 6Hợp Thai cầm đầu chỉ còn cách đội quân vệ quốc của vua Trần Thái Tông một con sông Phan (con sông nhỏ thuộc hệ thống sông Cà Lồ). Bên bờ nam con sông nhỏ này, voi ngựa Đại Việt bày trận san sát chờ sẵn. Bên kia bờ bắc, quân Mông Cổ sắp đặt các thê đội chuẩn bị vượt sông. Cuộc quyết chiến giữa Đại Việt và Mông Cổ sắp bắt đầu.

Top